Hơn 40 Blog. Hơn 300 Nhà thơ nổi tiếng Thế giới và những Lời chúc – Giai thoại – Chuyện tình hay nh

Thứ Năm, 9 tháng 2, 2017

Thơ Aleksandr Tvardovsky


Aleksandr Trifonovich Tvardovsky (tiếng Nga: Александр Трифонович Твардовский, 21 tháng 7 năm 1910 - 18 tháng 12 năm 1971) là nhà thơ Nga Xô viết ba lần được tặng giải thưởng Stalin (1941, 1946, 1947), giải thưởng Lenin (1961), giải thưởng Nhà nước (1971), là tổng biên tập tạp chí Thế giới mới (1950-1954, 1958-1970). 

Tiểu sử:
Aleksandr Tvardovsky sinh ở làng Zagorye, tỉnh Smolensk trong gia đình một thợ rèn. Biết làm thơ từ nhỏ, từng học ở Đại học sư phạm Smolensk và tốt nghiệp Đại học văn, sử, triết học Moskva năm 1939. Năm 1931 in tập thơ Путь к социализму (Đường lên chủ nghĩa xã hội) vа bắt đầu trở thаnh nhа thơ nổi tiếng sau khi in tập Страны Муравии (Xứ sở của kiến) vẽ ra một viễn cảnh về lаng mới vа ca ngợi chủ nghĩa tập thể. Năm 1941 in trường ca Василий Тёркин (Vasili Tyorkin) mà ngay cả những người không hề có cảm tình với văn học Xô Viết như nhà văn Ivan Bunin (giải Nobel Văn học năm 1933) cũng đánh giá cao tác phẩm này. Vasili Tyorkin trở thành một nhân vật dân gian và năm 1946 được tặng giải thưởng Stalin (sau này đổi thành giải thưởng Nhà nước). Chuyện kể rằng trong một lần thi học kỳ ở Đại học văn, sử, triết học Moskva, Tvardovsky bắt được câu hỏi về trường ca Страны Муравии của Tvardovsky, khi đу đг lа một tбc phẩm nổi tiếng được đưa vаo giảng dạy ở nhа trường.

Năm 1950 Aleksandr Tvardovsky được bổ nhiệm làm tổng biên tập tạp chí Thế giới mới và trong một thời gian dài là tổng biên tập của tờ tạp chí quan trọng bậc nhất này. Năm 1962 Aleksandr Tvardovsky xin phép ban phụ trách văn học Đảng cộng sản Liên Xô in Một ngày của Ivan Denisovich (Один день Ивана Денисовича) của nhà văn Aleksandr Solzhenisyn (giải Nobel Văn học năm 1970), khi đang bị coi là nhà văn có vấn đề, càng làm cho tờ tạp tạp chí này nổi tiếng hơn. Năm 1970 ông bị bãi miễn chức tổng biên tập Thế giới mới vì tình trạng hai mặt của một cá nhân vừa là một cán bộ tư tưởng cao cấp của đảng, vừa là một người ngầm phản đối quan điểm chính thống. Aleksandr Tvardovsky là nhà thơ có sự ảnh hưởng đến nhiều nhà thơ, nhà văn nổi tiếng sau này bằng tác phẩm cũng như việc phát hiện và đăng tác phẩm của họ trên tạp chí Thế giới mới mà ông là tổng biên tập. Aleksandr
Tvardovsky mất ngoại ô Moskva năm 1971.

Tác phẩm:
*Путь к социализму (1931)
*Страна Муравия (1936
*Стихи (1937)
*Дорога (1938)
 
*Сельская хроника (1939)
 
*Загорье (1941)
*Василий Теркин (1941)
*Дом у дороги (1946)
*За далью даль (1950-1960)
*По праву памяти (1953 - 1963)
*Теркин на том свете (1954 - 1963)




TÔI BƯỚC ĐI VUI VẺ. THẤY NHẸ NHÀNG
(Я иду и радуюсь. Легко мне)

Tôi bước đi vui vẻ. Thấy nhẹ nhàng
Mưa đã qua. Đồng cỏ xanh ngời sáng
Tôi không biết anh, tôi không nhớ anh
Hỡi người bạn của tôi vô danh tiếng.

Anh mất trong trận nào, tôi không biết
Nhưng anh chết vì sự nghiệp vinh quang
Đ
cho quê hương và cho tổ quốc
Sẽ đẹp hơn và sẽ hạnh phúc hơn.

Trên cánh đồng làn khói xuân lan tỏa
Tôi bước đi trong sức lực tràn trề
Tôi đã giữ, rồi đánh rơi đâu đó
Cành tử đinh hương có nhánh đôi.

Người đồng chí của tôi, đừng oán trách
Rằng nằm đây, mà đáng lẽ sống vui
Chẳng lẽ tôi, được hưởng cuộc đời này
Mà lại muốn được chết bằng cách khác!…

1934


TÔI BIẾT RẰNG TÔI KHÔNG HỀ CÓ LỖI

(Я знаю, никакой моей вины)

Tôi biết rằng tôi không hề có lỗi
Vì từ chiến tranh những người khác không về
Rằng họ là những người già hơn tôi, hay trẻ -
Đã
bỏ mình, nhưng đâu phải chuyện kia
Rằng tôi có thể nhưng không biết cách gìn giữ
Không về chuyện này, nhưng vẫn cảm thấy điều chi

1966



VẺ ĐẸP CỦA MẸ KHÔNG GIÀ
(Не стареет твоя красота)

Vẻ đẹp của mẹ không già theo tháng năm
Mà ngời lên mạnh mẽ theo ngày tháng
Bay trên thời gian vô cùng yên lặng
Như những con chim bay thật nhẹ nhàng. 

Vẻ đẹp của mẹ không già theo tháng năm
Và đôi mắt không mờ vì dòng lệ
Mái tóc của mẹ có màu hạt dẻ
Có vẻ như dày và nặng nề thêm. 

Mẹ bước đi trên mặt đất trẻ trung
Hoa cỏ xanh sau mỗi bàn chân bước
Đ
ồng lúa mạch cúi chào và đứng dẹp
Khi mẹ bước trên đồng ruộng, trên đường. 

Cây bạch dương tươi trẻ trong rừng
Màu trắng tinh, vươn lên đều đặn thế
Khi cây nhìn vẻ đẹp xinh của mẹ
Cây tự do và kiêu hãnh lớn lên. 

Vẻ đẹp của mẹ theo tháng năm không già 
Mẹ có nghe trên đồng bao tiếng hát
Giọng kỷ niệm tất cả đều nhận biết
Thiếu giọng này đã chẳng có bài ca. 

Đ
ang mở ra cửa sổ những ngôi nhà
Tiếng lá rung ồn ào đang im bặt
Mẹ hát lên, bởi vì mẹ đang hát
Bởi chính vì mẹ là một bài ca.

1937


TA SỐNG ÍT TRÊN ĐỜI
(Мы на свете мало жили)

Ta sống ít trên đời
Cứ ngỡ rằng khi đó
Ta những người xa lạ
Ta mãi mãi chia tay. 

Em quay lại lấy đồ
Định vội vàng cất bước
Để nói lời giã biệt
Em đi nhóm bếp lò. 

Lửa bén vỏ bulô
Tí tách từng thanh củi.
Nói với anh giản dị
Những lời thật như xưa. 

Giờ anh đã hiểu ra 
Cách tình yêu gìn giữ.
Nhận ra điều như thế
Ta cùng nhóm bếp lò.
1938




BỐ VÀ CON TRAI
(Отец и сын)

Có lẽ mọi bất hạnh
Từ bức thư gửi về:
Báo anh đã chết rồi
Thế mà anh vẫn sống.

Vinh quang trở về nhà
Cả gia đình vui nhé!
Nhìn quanh – người xa lạ.
– Thế vợ tôi ở đâu?

– Cô đợi mấy năm ròng
Chiến tranh dài đằng đẵng. 
Cô cùng với người bạn
Của anh nên vợ chồng. 

– Tôi theo cách của mình
Cùng anh ta nói chuyện
Nhưng mọi người nói thẳng:
– Đã chết ngoài chiến trường.

Vợ – nỗi đau thứ hai
Không thể nào chịu đựng.
Giờ nằm trong bệnh viện
Trí nhớ cô rối bời. 

Giống như người lính ấy
Sức lực cô không còn.
Bằng giọng nói thì thầm:
– Con gái đâu? – anh hỏi. 

Mọi người không dám dối
Giúp được gì cho anh:
– Dạo mùa đông trong trường
Đã chết vì bom dội. 

Thà anh đừng trở lại
Quê nhà từ chiến trường!
Nhưng anh còn muốn thêm
– Con trai tôi? – anh hỏi. 

– Con trai anh mạnh khỏe
Chờ đợi anh một mình.
Giống như hai anh em
Ôm nhau – con và bố. 

Họ giống như đồng đội
Những người bạn khổ đau.
– Đừng khóc – thằng bé kêu
Đừng khóc, đừng khóc, Bố! 

Đưa mái đầu áp nhẹ
Lên vai của bố mình.
– Hãy cho con đi cùng
Con sống cùng với bố. 

– Bố đồng ý con ạ
Đem con ra chiến trường
Nơi đó có trung đoàn
Là nhà mình con nhé.
1943



XIN CÁM ƠN QUÊ HƯƠNG
(Спасибо, моя родная)

Xin cám ơn Quê hương
Đất đai, nhà của bố
Cám ơn vì tất cả
Tôi mang ở trong lòng.

Vì thời gian, thế kỷ
Ta được sống với Người
Ta yêu và ta nhớ
Vì nỗi khổ, niềm vui.

Vì đau khổ, đắng cay
Trên đường không tránh được
Xin cám ơn khoa học
Cùng tiến bước trong đời. 

Vì một lòng chung thủy
Muốn phụng sự cho Người
Công việc nào bất kể
Vẫn đủ sức đôi vai. 

Thích mạnh mẽ vùng lên
Mà không cần tốn sức
Ta sẽ lập chiến công
Nhân danh vì Tổ quốc
Vì hạnh phúc, Quê hương.
1955


 GỬI CÁC NHÀ PHÊ BÌNH CỦA TÔI
(Моим критикам)

Tất cả quí vị dạy tôi phấn đấu
Khuyên tôi những điều dễ hiểu, giản đơn
Để tôi hát mà không nghe, không thấy
Chỉ biết rằng: điều gì được, gì không. 

Nhưng không thể không nhận biết điều kia
Để rồi sau đó, qua nhiều năm tháng
Quí vị lại đọc cho tôi bài giảng:
Anh ở đâu, anh đã thấy những gì?... 
1956



CỨ ĐỂ ĐẾN GIỜ CUỐI CÙNG TÍNH TOÁN
(Пускай до последнего часа расплаты)

Cứ để đến giờ cuối cùng tính toán
Trước ngày toàn thắng – ngày đó gần thôi –
Tôi không sống đến như nhiều người bạn
Họ đã từng cũng chẳng kém gì tôi. 

Tôi chấp nhận số phận mình – người lính
Giá mà được chọn cái chết cho mình
Thì tốt nhất là chết vì quê hương
Và ta không được chọn. 
1941


CẢ BẢN CHẤT TRONG MỘT ĐIỀU
(Вся суть в одном-единственном завете)

Cả bản chất trong một điều duy nhất:
Những điều tôi nói, giấu trước thời gian
Tôi biết nó hơn tất cả người trần –
Người sống, người chết – chỉ mình tôi biết.

Nói lời này không cho một ai kia
Tôi không bao giờ vì điều gì có thể
Đem giao phó. Ngay cả Lev Tolstoy –
Đừng nói – cho mình hắn là Thượng Đế.

Tôi chỉ là phàm nhân. Trong câu trả lời
Tôi cầu xin một điều trong cuộc sống:
Điều tôi biết hơn tất cả trên đời
Tôi muốn nói. Và theo cách tôi muốn.
1958



KHÔNG CÓ GÌ MỘT LẦN VÀ MÃI MÃI
(Нет ничего, что раз и навсегда)

Không có gì, một lần và mãi mãi
Được thể hiện bằng lời trên thế gian. 
Tất cả, như tình, với ta đều mới
Chỉ cần ta chờ đến lượt của mình. 

Không mới mẻ rằng hè thay mùa đông
Xuân và thu đến thời, không cần đợi
Nhưng dù tất cả lặp đi lặp lại
Có điều gì ta vẫn thấy mông lung. 

Tất cả trong đời – chỉ cần canh chừng –
Có đầy đủ của mình, không cần nhập
Không của ai, không có ai nhận hết
Nhà thơ cứ đưa cái mới của mình.
1969


NIỀM TIN TÔI TRÀN ĐẦY
(Я полон веры несомненной)

Không nghi ngờ niềm tin tôi tràn đầy
Rằng cuộc đời – vốn trôi rất chóng vánh
Đời vẫn không đến nỗi nào quá ngắn
Và nó hoàn toàn đang thuộc về tôi. 

Với tất cả vẻ sống động của đời
Sự ấm áp và niềm vui ánh sáng
Với quá khứ và tương lai sẽ đến
Với cái thiện và cái ác đắng cay. 

Đời đã cho tôi ứng trước những ngày –
Thôi đành thế, bắt tay vào công việc
Không hề ngắn ngủi, mặc dù chỉ ít –
Và nó không hề tách khỏi cuộc đời
Và với đời nó vẫn là cần thiết. 
1957



SAO ƠI CHO TÔI HỎI
(Звезды, звезды, как мне быть)

Sao ơi, cho tôi hỏi
Tôi biết phải làm gì
Để đi yêu người ta
Như người ta mong mỏi?

Đã ba ngày trôi qua 
Nàng bảo tôi như vậy: 
– Hãy yêu em như thế
Để anh thấy nhọc nhằn.

Để mọi thứ với anh
Trên đời không đơn giản
Để khi nào anh muốn
Cứ việc nhảy xuống sông.

Để không lửa không khói
Anh không sợ điều gì.
Hãy yêu em như vầy
Để cho em yêu lại. 
1938


CÔ DÂU

Ta từng chơi với nhau
Giẫm bụi bên đống củi
Người ta đôi khi gọi 
Rằng em là cô dâu.

Ta lớn theo tháng năm
Rồi có ai đó đến
Trong nửa năm chiếm trọn
Cả tình cảm của em.

Người bay từ xa đến
Ngôi bên em ở đây.
Về cuộc gặp sắp đến
Em nói suốt buổi chiều.

Người ve vuốt tay em
Anh nhìn từ bên phía
Bao nhiêu là dịu dàng
Bao tự hào người vợ.

Em sống bằng người ta
Thủy chung như người mẹ. 
Không còn gì nói nữa
Có gì để viết đâu.

Anh cám ơn lần gặp
Chẳng hờn dỗi gì đâu.
Anh ta là người tốt
Cho anh gửi lời chào.

Hãy để người can đảm
Giành những kỷ lục thêm
Nhưng cô dâu ngoan hiền
Yêu mất rồi, đồ nỡm!... 
1936

Невеста

Мы с тобой играли вместе,
Пыль топтали у завалин,
И тебя моей невестой
Все, бывало, называли.

Мы росли с тобой, а кто-то
Рос совсем в другом краю
И в полгода заработал
Сразу всю любовь твою.

Он летает, он далече,
Я сижу с тобою здесь.
И о нём, о скорой встрече
Говоришь ты вечер весь.

И, твои лаская руки,
Вижу я со стороны
Столько нежности подруги,
Столько гордости жены.

Вся ты им живёшь и дышишь,
Вся верна, чиста, как мать.
Ничего тут не попишешь,
Да и нечего писать.

Я за встречу благодарен,
У меня обиды нет.
Видно, он хороший парень,
Передай ему привет.

Пусть он смелый, пусть известный,
Пусть ещё побьёт рекорд,
Но и пусть мою невесту
Хорошенько любит, чёрт!..

1936

Thơ Konstantin Balmont


Konstantin Dmitrievich Balmont (tiếng Nga: Константин Дмитриевич Бальмонт, 15 tháng 6 năm 1867 – 24 tháng 12 năm 1942) – nhà thơ, dịch giả, là một nhà thơ lớn của thế kỷ bạc trong thơ Nga.

Tiểu sử:
Konstantin Dmitrievich Balmont sinh ở tỉnh Vladimir trong một gia đình dòng dõi quí tộc. Lên 10 tuổi biết làm thơ. Học trường gymnazy ở Vladimir. Từ năm 1886 học khoa luật Đại học Moskva nhưng không tốt nghiệp. Trong một lần xích mích với vợ, Balmont nhảy từ tầng 3 xuống đất tự tử nhưng không chết, hậu quả là phải đi cà nhắc suốt đời. Năm 1899 được bầu làm thành viên của Hội những người yêu ngôn ngữ Nga, sau đó bắt đầu in những tập thơ đầu tiên. Tiếp đến là một thời kỳ sáng tạo sung sức nhất của Balmont. Năm 1903 in các tập thơ: “Будем как Солнце”(Ta sẽ như mặt trời), “Только любовь. Семицветник” (Chỉ tình yêu. Bảy vườn hoa), Năm 1905 in: “Литургия красоты” (Thánh lễ của cái đẹp) và trở thành một nhà thơ nổi tiếng. Từ năm 1907 – 1910 xuất bản ở Moskva “Полное собрание стихов”(Tuyển tập thơ) gồm 10 tập.

Thời gian này Balmont đi du lịch rất nhiều nước châu Âu: Ý, Tây Ban Nha, Anh, Pháp và định đi sang Mexico. Năm 1905 Balmont quay trở về Nga làm quen với Maxim Gorky và cộng tác với báo Новая жизнь (Cuộc đời mới), tạp chí Красное знамя (Cờ đỏ). Cũng trong năm này bí mật đi sang Paris và chỉ trở về Nga vào năm 1916. Do không tán thành cuộc Cách mạng tháng Mười nên năm 1920 ông ra sống ở nước ngoài cho đến hết đời. Ông mất năm 1942 ở Noisy-le-Grand, gần Paris lúc đó bị Đức chiếm đóng.

Ngoài sáng tác thơ, Balmont còn là một dịch giả nổi tiếng của Nga. Phạm vi dịch thuật của ông rất rộng. Ông dịch các nhà thơ lớn của Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Tây Ban Nha, Ba Lan, Séc, Gruzia, Litva, Phần Lan… tổng cộng hơn 30 ngôn ngữ của thế giới, trong đó có cả Kinh Phật, Upanishads, Kinh Vệ Đà của Ấn Độ.


Tác phẩm chính:
*Под северным небом (Dưới bầu trời phương Bắc, 1889)
*Тишина (Yên lặng, 1898)
*Горящие здания (Những ngôi nhà nóng bỏng, 1900)
*Будем как Солнце (Ta sẽ như mặt trời, 1903), 
*Только любовь. Семицветник (Chỉ tình yêu. Bảy vườn hoa, 1903), 
*Литургия красоты (Thánh lễ của cái đẹp, 1905)
*Песни мстителя (Những khúc hát của kẻ báo thù, 1907)
Toàn bộ tác phẩm của Balmont gồm 50 tập, trong đó 22 tập in ở nước ngoài.



ĐẾN NGÀY CUỐI TẬN
(До последнего дня)

Có thể, một khi em đã phụ tình
Em lạnh lùng với anh nhiều lắm lắm
Nhưng cả cuộc đời cho đến ngày cuối tận
Bạn tình ơi, em vẫn mãi của anh.

Với những đam mê mới mẻ, anh biết rằng
Với người khác, tình xưa em quên lãng
Nhưng trong kỷ niệm bóng hình xưa vẫn sống
Dù tình xưa đã yên giấc ngàn năm.

Và sẽ có một khoảnh khắc đau khổ của tình
Trong ánh sáng của một ngày xưa cũ
Bên người ta, em nhìn vào ngọn nguồn bất tử
Em chợt rùng mình và bỗng nhớ đến anh.


До последнего дня

Быть может, когда ты уйдешь от меня,
Ты будешь ко мне холодней.
Но целую жизнь, до последнего дня,
О друг мой, ты будешь моей.

Я знаю, что новые страсти придут,
С другим ты забудешься вновь.
Но в памяти прежние образы ждут,
И старая тлеет любовь.

И будет мучительно-сладостный миг:
В лучах отлетевшего дня,
С другим заглянувши в бессмертный родник,
Ты вздрогнешь - и вспомнишь меня.


ANH YÊU EM

(Я люблю тебя больше, чем Море, и Небо, и Пение)

Anh yêu em hơn Bài ca, hơn Trời cao, Biển rộng
Anh yêu em lâu hơn những ngày được sống trên đời
Chỉ vì em mà anh cháy lên như ngôi sao trong tĩnh lặng xa xôi
Em là con tàu không chìm trong giấc mơ, trong sương mờ, trong sóng.

Anh yêu em bất thình lình, ngay lập tức, tuyệt vọng
Nhìn thấy em – anh giống như người mù bỗng nhiên sáng mắt ra
Và ngạc nhiên rằng trong cuộc đời tượng vẫn luôn kết gắn
Rằng vẫn có thừa châu ngọc dưới chân ta.

Anh nhớ. Em mở cuốn sách lật từng trang sột soạt
Anh hỏi em: “ở trong lòng có tan hết giá băng?”
Em đến gần, trong khoảnh khắc anh nhìn thấy trời cao và thấy chốn xa xăm
Và anh yêu – vì người yêu và về tình yêu anh cất tiếng hát.


Я люблю тебя

Я люблю тебя больше, чем Море, и Небо, и Пение,
   Я люблю тебя дольше, чем дней мне дано на земле.
Ты одна мне горишь, как звезда в тишине отдаления,
   Ты корабль, что не тонет ни в снах, ни в волнах,
                                           ни во мгле.

Я тебя полюбил неожиданно, сразу, нечаянно,
   Я тебя увидал - как слепой вдруг расширит глаза
И, прозрев, поразится, что в мире изваянность спаяна,
   Что избыточно вниз, в изумруд, излилась бирюза.

Помню. Книгу раскрыв, ты чуть-чуть шелестела страницами.
   Я спросил: "Хорошо, что в душе преломляется лед?"
Ты блеснула ко мне, вмиг узревшими дали, зеницами.
   И люблю - и любовь - о любви - для любимой - поет.


BEATRICE

(Беатриче)

Anh yêu em từ cái nhìn đầu tiên
Nhớ câu nói thì thầm khắp mọi chốn
Em lặng im, chỉ những lời nóng bỏng
Của mắt nhìn em gửi đến cho anh.

Ngày theo ngày. Bây giờ đã một năm
Và mùa xuân lại bừng lên vẻ đẹp 
Trên trang phục những bông hoa đang kết
Còn anh vẫn yêu em như buổi đầu tiên.

Em vẫn như xưa, buồn bã, lặng im
Chỉ ánh mắt nhìn thay cho lời nói
Vẻ lạnh lùng như Chúa tể – vầng trăng.

Vẻ đẹp của trăng ẩn giấu ở sau rừng
Nhưng sau vách đá dáng hình cúi xuống
Và sáng lên từ bóng tối đêm đen.


Беатриче
Сонет

Я полюбил тебя, лишь увидал впервые.
Я помню, шел кругом ничтожный разговор,
Молчала только ты, и речи огневые,
Безмолвные слова мне посылал твой взор.

За днями гасли дни. Уж год прошел с тех пор.
И снова шлет весна лучи свои живые,
Цветы одели вновь причудливый убор.
А я? Я все люблю, как прежде, как впервые.

И ты по-прежнему безмолвна и грустна,
Лишь взор твой искрится и говорит порою.
Не так ли иногда владычица-луна

Свой лучезарный лик скрывает за горою,-
Но и за гранью скал, склонив свое чело,
Из тесной темноты она горит светло.



GỬI NGƯỜI CHƠI TRÒ TÌNH ÁI

(Играющей в игры любовные)

Có những nụ hôn như giấc mộng tự do
Sung sướng mừng vui đến tận cùng khoái lạc
Có những nụ hôn lạnh lùng như tuyết
Những nụ hôn như xúc phạm người ta.

Những nụ hôn như bạo lực từ xa
Những nụ hôn như trả thù, báo oán
Những nụ hôn tưởng chừng như ghê tởm
Thế mà sao vẫn cháy bỏng lại kì.

Nụ hôn tận cùng khoái lạc hãy biến đi
Không gọi tên và không cần giấc mộng
Ta căm thù – ta có thừa bạo dạn
Ta có đủ đầy ý chí của tình ta.
1901


Играющей в игры любовные

Есть поцелуи — как сны свободные,
Блаженно-яркие, до исступления.
Есть поцелуи — как снег холодные.
Есть поцелуи — как оскорбление.

О, поцелуи — насильно данные,
О, поцелуи — во имя мщения!
Какие жгучие, какие странные,
С их вспышкой счастия и отвращения!

Беги же с трепетом от исступленности,
Нет меры снам моим, и нет названия.
Я силен — волею моей влюбленности,
Я силен дерзостью — негодования!


AD INFINITUM(1)


Trong nhà thờ – tất cả như ngày trước.
Nghe tiếng rung khe khẽ của bình hương.
“Anh nói đùa, anh cười hỏi em
Chẳng lẽ là em yêu anh thật?”

Ngọn nến rung, mịt mờ làn khói bốc
ánh sáng như vay mượn chiếu lên tranh
Ai cũng muốn trong nhà thờ tối đêm
Để hết nến này, nến kia sẽ đốt.

Trong nhà thờ rồi vẫn như ngày trước.
Nghe tiếng rung khe khẽ của bình hương.
“Anh chỉ đùa tôi, anh không chân tình
Khổ thân tôi! Thế mà tôi yêu thật”.
__________

(1)Đến vô cùng (tiếng Latinh).


Ad infinitum

В храме всё — как прежде было.
Слышен тихий взмах кадил.
   «Я смеялся, я шутил.
   Неужели ты любила?»

Дымен смутный трепет свеч,
На иконах свет заемный.
Каждый хочет в церкви темной
От свечи свечу зажечь.

В храме будет так, как было.
Слышен тихий звон кадил.
   «А, неверный! Ты шутил.
   Горе! Горе! Я любила».