Hơn 40 Blog. Hơn 300 Nhà thơ nổi tiếng Thế giới và những Lời chúc – Giai thoại – Chuyện tình hay nh

Thứ Năm, 2 tháng 2, 2017

Thơ Nikolai Karamzin


Nikolai Mikhailovich Karamzin (tiếng Nga: Никола́й Миха́йлович Карамзи́н, 1 tháng 12 năm 1766 – 22 tháng 5 năm 1826) – là nhà văn, nhà thơ, nhà sử học Nga, thành viên danh dự của Viện Hàn lâm Khoa học Saint Petersburg, tác giả của bộ Lịch sử Nhà nước Nga gồm 12 tập, là một trong những công trình sử học tổng hợp đầu tiên của Nga.

Tiểu sử:
Nikolai Karamzin sinh làng Mikhailovka tỉnh Simbirsk trong một gia đình giàu có. Biết tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Ý. Năm lên 14 tuổi được gia đình gửi lên Moskva học trường tư do giáo sư của Đại học Quốc gia Moskva, Shaden dạy. Năm 1783, theo lời khuyên của bố, Karamzin vào phục vụ tại trung đoàn kỵ binh Petersburg. Từ tháng 5 – 1789 đến tháng 9 – 1790 đi các nước Đức, Thụy Sĩ, Pháp và Anh. Trong chuyến đi này ông đã gặp nhà triết học Immanuel Kant Königsberg và có mặt Paris trong những ngày Cách mạng Pháp. 

Trở về Moskva ông thành lập Tạp chí Moskva (Московский Журнал) và sớm trở thành một tạp chí có tiếng thời đó. Năm 1802 ông thành lập tạp chí Tin Châu Âu (Вестник Европы) là tạp chí tư nhân đầu tiên Nga. Ông đã mời 12 nhà báo nổi tiếng của châu Âu cộng tác và mời những nhà thơ nhà văn nổi tiếng của Nga, trong số này có Gavrila Romanovich Derzhavin, Aleksandr Sergeyevich Pushkin, Vasily Andreyevich Zhukovsky.. 

Tháng 10 năm 1803 Nga hoàng Aleksandr I ký lệnh phong Karamzin làm người viết sử với mức lương 2000 rúp mỗi năm. Đây là công việc mà ông làm cho đến cuối đời. Bộ Lịch sử Nhà nước Nga  thời đó in 3000 bản và bán hết trong vòng 25 ngày. Năm 1812 ông sống Moskva. Năm 1816 chuyển về Saint Petersburg và sống 10 năm cuối đời gần Nga hoàng. Năm 1818 ông được bầu là thành viên danh dự của Viện Hàn lâm Khoa học Saint Petersburg. Năm 1824 ông trở thành cố vấn quốc gia của Nga hoàng Aleksandr I. Sau khi Nga hoàng Aleksandr I mất (tháng 11 năm 1825) Nikolai Karamzin cũng thường xuyên ốm nặng. Đầu năm 1826 ông được Nga hoàng Nicolai I cho tổ chức chuyến đi nghỉ dưỡng Pháp và Ý nhưng sức khỏe của ông không cho phép. Nikolai Karamzin mất ngày 22 tháng 5 năm 1826 Saint Petersburg.

Tác phẩm:
Thơ:
*К Милости, 1792
*Поэзия, 1792
*Меланхолия, 1802
Văn:
*Евгений и Юлия, 1789
*Письма русского путешественника, 1791/92
*Фрол Силин, 1791
*Бедная Лиза, 1792
*Лиодор, 1792
*Наталья, боярская дочь, 1792
*Остров Борнгольм, 1793
...................

Thư mục:
*Карамзин Н.М. Избранные сочинения, тт. 1-2. М., 1964
*Карамзин Н.М. Полное собрание стихотворений. М. — Л., 1966
*Карамзин Н.М. Избранные статьи и письма. М., 1982

....................

Một số bài thơ


VĨNH BIỆT

Có ai yêu điên cuồng
Như anh từng yêu em?
Nhưng thở than phí uổng
Anh làm hại đời mình!

Khổ sở hành hạ anh
Say đắm chỉ một mình!
Yêu một cách cưỡng ép
Ai có thể đâu em.

Anh kém cỏi, tầm thường
Sao quyến rũ được em?
Không vui, không ngộ nghĩnh
Lấy gì đ yêu anh?

Con tim thì giản đơn
Tình cảm trên thế gian.
nơi cần nghệ thuật
Anh đã không biết đường!

(
Nghệ thuật biết oai phong
Nghệ thuật biết tinh nhanh
Thông minh hơn tất cả
Và nói chuyện dễ thương.)

Anh đã không biết rằng
Mù vì tình yêu mình
Nên anh từng can đảm
Mong tình yêu của em!

Anh khóc, em cười anh
Đù
a giỡn với tình anh
Em lấy làm tiêu khiển
Nỗi buồn anh chân thành.

Tia hy vọng lụi tàn
Giờ đây trong lòng anh…
Người khác đang làm chủ
Mãi mãi cánh tay em!..

Hãy hãy phúc, yên bình
Và vui vẻ chân thành
Bằng lòng cùng số phận
Và chung thủy với chồng!

Trong bóng tối mơ màng
Anh sống nốt đời mình
Và tuôn dòng lệ bỏng
Anh đợi phút lâm chung.


Прости

Кто мог любить так страстно,
Как я любил тебя?
Но я вздыхал напрасно,
Томил, крушил себя!

Мучительно плениться,
Быть страстным одному!
Насильно полюбиться
Не можно никому.

Не знатен я, не славен,-
Могу ль кого прельстить?
Не весел, не забавен,-
За что меня любить?

Простое сердце, чувство
Для света ничего.
Там надобно искусство -
А я не знал его!

(Искусство величаться,
Искусство ловким быть,
Умнее всех казаться,
Приятно говорить.)

Не знал - и, ослепленный
Любовию своей,
Желал я, дерзновенный,
И сам любви твоей!

Я плакал, ты смеялась,
Шутила надо мной,-
Моею забавлялась
Сердечною тоской!

Надежды луч бледнеет
Теперь в душе моей...
Уже другой владеет
Навек рукой твоей!..

Будь счастлива - покойна,
Сердечно весела,
Судьбой всегда довольна,
Супругу - ввек мила!

Во тьме лесов дремучих
Я буду жизнь вести,
Лить токи слез горючих,
Желать конца - прости!



BÀI CA TỪ TRUYỆN "ĐẢO BORNHOLM"

Luật pháp rồi đây sẽ
Phán xét tình của anh
Nhưng mà ai có thể
Cưỡng lại được con tim?

Luật nào thiêng liêng hơn
Tình của em tha thiết?
Quyền lực nào mạnh hơn
Tình yêu và sắc đẹp?

Người đời nguyền rủa anh –
Anh vẫn yêu và sẽ -
Những tâm hồn nhẫn tâm
Những con tim nghiệt ngã!

Hỡi thiên nhiên thần thánh!
Bạn và con trai em
Em trao anh trái tim
Anh hoàn toàn trong trắng.

Và chính món quà tặng
Trang điểm thiên nhiên mà –
Thiên nhiên! Người đã muốn
Cho ta yêu Lila!

Tiếng sấm ngươi vang rền
Nhưng mà không giết chết
Khi mà ta hạnh phúc
Trong ôm ấp của tình.

Hỡi Bornholm yêu thương
Tâm hồn ta khao khát
Ta hướng về miền đất
Ta khóc thật hoài công.

Mệt mỏi và thở than
Muôn thuở ta cách ngăn
Lời thề nguyền cha mẹ
Với bờ bến của em!

Lila, em hãy còn
Sống trong nỗi buồn anh?
Hay là trên ngọn sóng
Đã kết liễu đời mình?

Hãy hiện ra với anh
Hỡi chiếc bóng thân thương!
Anh tự mình trên sóng
Sẽ chết cùng với em.
_________
* Bornholm – hòn đảo của Đan Mạch nằm trên biển Baltic. “Đảo Bornholm” là một tác phẩm của N. Karamzin, là câu chuyện của một chàng trai trẻ kể về chuyến du hành đến những miền đất lạ mà đảo Bornholm và câu chuyện tình với cô gái trên đảo này là những hoài niệm của nhân vật khi trên đường trở về nước Nga.

Песня из повести "Остров Борнгольм"

Законы осуждают
Предмет моей любви;
Но кто, о сердце, может
Противиться тебе?

Какой закон святее
Твоих врожденных чувств?
Какая власть сильнее
Любви и красоты?

Люблю — любить ввек буду.
Кляните страсть мою,
Безжалостные души,
Жестокие сердца!

Священная Природа!
Твой нежный друг и сын
Невинен пред тобою.
Ты сердце мне дала;

Твои дары благие
Украсили ее, —
Природа! ты хотела,
Чтоб Лилу я любил!

Твой гром гремел над нами,
Но нас не поражал,
Когда мы наслаждались
В объятиях любви.

О Борнгольм, милый Борнгольм!
К тебе душа моя
Стремится беспрестанно;
Но тщетно слезы лью,

Томлюся и вздыхаю!
Навек я удален
Родительскою клятвой
От берегов твоих!

Еще ли ты, о Лила,
Живешь в тоске своей?
Или в волнах шумящих
Скончала злую жизнь?

Явися мне, явися,
Любезнейшая тень!
Я сам в волнах шумящих
С тобою погребусь.


Thơ Vasily Fedorov


Vasily Dmitryevich Fedorov (tiếng Nga: Василий Дмитриевич Фёдоров, 23 tháng 2 năm 1918 – 19 tháng 4 năm 1984) – nhà văn, nhà thơ Nga Xô Viết.

Tiểu sử:
Vasily Fedorov sinh ở Kemerovo, là con thứ 9 trong một gia đình công nhân đông con. Tuổi thơ và tuổi trẻ sống ở làng quê. Làm việc ở nông trường rồi vào học trường trung cấp hàng không ở Novosibirsk. Năm 1938 tốt nghiệp trường trung cấp hàng không được phân công đến làm việc ở nhà máy chế tạo máy bay Yarkutsk. Từ năm 1938 đến năm 1947 liên tục làm việc ở các nhà máy vùng Siberia. Năm 1939 in một số bài thơ ở báo Sự thật thanh niên của tỉnh. Sau đó tiếp tục in thơ ở các tạp chí vùng Siberia. Năm 1944 vào học hệ tại chức trường viết văn M. Gorky. Sự làm quen với Aleksandr Tvardovsky và sự đánh giá cao của dư luận về trường ca mới nhất lúc đó Марьевская летопись đã giúp cho Vasily Fedorov được chuyển sang hệ chính qui. Năm 1947 in cuốn sách đầu tiên: Лирическая трилогия. Năm 1950 ông tốt nghiệp trường viết văn M. Gorky. Năm 1955 in quyển sách thứ 2: Лесные родники. Hai tác phẩm: Третьи петухи  Седьмое небо được tặng Giải thưởng mang tên M. Gorky của Liên bang Nga năm 1968. 

Thơ trữ tình của Vasily Fedorov không chỉ nổi tiếng ở Nga mà cả ở nhiều nước khác. Ông được tặng 2 huân chương Cờ đỏ và 1 huân chương Cách mạng Tháng Mười. Năm 1979 ông được tặng Giải thưởng Nhà nước Liên Xô. Vasily Fedorov mất ngày 19 tháng 4 năm 1984.

Tỉnh Kemerovo đã thành lập giải thưởng Vasily Fedorov để trao cho các nhà thơ trẻ tài năng của vùng Siberia. Ở làng quê của ông người ta đã lập bảo tàng về ông.

Tác phẩm:
*Лирическая трилогия, 1947
*Лесные родники, 1955 
*Марьевские звезды, 1955 
*Зрелость, 1953
*Добровольцы, 1955 
*Ленинский подарок, 1954
*Дикий мед, 1958
*Белая роща, 1958 
*Третьи петухи, 1966 год
*Седьмое небо, 1967
*Проданная Венера»(1958), 
*Женитьба Дон-Жуана, 1977


Một số bài thơ

PHỤ NỮ VÀ CÁI CHẾT

Nghe đã quen
Như trong cổ tích
Những người phụ nữ bỏ ta đi mất.
Họ ra đi
Và mang theo mình
Vẻ lạnh lùng
Của biết bao đôi mắt.

Một thuở dịu dàng
Say đắm, yêu thương
Đã từng lâu lắm
Ta say đắm, ngất ngư.
Thế mà chẳng lẽ
Trong con người kia
Không còn một giọt nhỏ
Một giọt rượu của ta?

Yêu làm gì?
Đau khổ để làm gì?
Đôi mắt người khác
Nhìn vào để làm chi?
Than ôi! Trí tuệ không hiểu ra
Hai điều bí mật:
Phụ nữ và cái chết! 


Знакомо, как старинный сказ...

Знакомо,
Как старинный сказ,
Уходят женщины от нас.
Они уходят
И уносят
Холодный блеск
Холодных глаз.

Была нежна
И влюблена,
Была так долго
Мной пьяна.
Так неужель
В ней не осталось
Ни капли
Моего вина?

Зачем любить?
Зачем гореть?
Зачем в глаза
Другой глядеть?
Увы! Уму непостижимы
Две тайны:
Женщина и смерть!


SAY TÌNH

Cơn say tình 
Với tôi dễ thương và thân thiết
Nhưng thật buồn cười
Cho một người
Chàng đào hoa này đã lập
Một danh sách dài
Những chiến tích
Những “tình yêu”.

Marina
Nina
Sasha
Masha.
Tuy thế
Những khi gặp gỡ
Giống như gặp gỡ của chim
Với người này tất cả
Vẫn là một người như thế
Được nhân lên thành
Một trăm phụ nữ.

Tôi mừng vui khôn xiết
Vì tôi có một niềm vui khác
Số phận của tôi
Không giống với người:
Thay đổi
Nhưng không đổi thay
Cả một trăm người phụ nữ
Tôi thấy trong một người.


Угар любви

Угар любви
Мне мил и близок,
Но как смешон
Тот сердцеед,
Что составляет
Длинный список
Своих "любвей",
Своих побед.

Марина,
Нина,
Саша,
Маша.
Меж тем
При встречах,
Как у птиц,
Была с ним
Все одна и та же,
Размноженная
На сто лиц.

Мне радость
Выпала иная,
Мне жребий
Выдался иной:
Меняясь,
Но не изменяя,
Сто женщин
Видел я в одной.




GIÁ NHƯ…

Giá như 
Ta là Thượng Đế
Thì ta sẽ
Biết được điều là
Ta tạo ra phụ nữ.

Giá như
Ta là nhà điêu khắc
Thì ta sẽ gọt
Từ đá trắng tạo ra
Một người phụ nữ!

Giá như
Phẩm màu được người cho
Thì ta đã vẽ
Bằng bút lông của ta
Một người phụ nữ!

Nhưng
Không phải cái người phụ nữ xưa đã từng
Cũng không phải người phụ nữ đã trở thành
Người vợ!


Если б Богом я был

Если б
Богом я был,
То и знал бы,
Что творил
Женщину!

Если б
Скульптором стал,
Высек бы
Из белых скал
Женщину!

Если б
Краски мне дались,
Рисовала б
Моя кисть
Женщину!

Но
Не бывшую со мной
И не ставшую женой
Женщину!