Hơn 40 Blog. Hơn 300 Nhà thơ nổi tiếng Thế giới và những Lời chúc – Giai thoại – Chuyện tình hay nh

Thứ Tư, 8 tháng 2, 2017

Thơ Zinaida Gippius


Zinaida Nikolaevna Gippius (tiếng Nga: Зинаида Николаевна Гиппиус, 8 tháng 11 năm 1869 – 9 tháng 9 năm 1945) là nữ nhà thơ, nhà văn Nga, vợ của nhà thơ Dmitriy Sergeyevich Merezhkovsky. 

Tiểu sử: 
Zinaida Nikolaevna Gippius sinh ở Belev, tỉnh Tula trong gia đình một luật sư gốc Đức. Gippus không học trường Đại học nào, mặc dù thời trẻ là một cô gái rất thông minh. Năm 1889 lấy chồng – là nhà thơ, nhà văn, nhà triết học Merezhkovsky và theo chồng về Sankt-Peterburg. Hai người sống với nhau, theo lời của Gippus, suốt 52 năm không một ngày xa nhau. 

Bắt đầu in thơ năm 1888 ở tạp chí Северном вестнике (Người đưa tin phương bắc). Gippus là một gương mặt tiêu biểu của trường phái ấn tượng. Năm 1900 cùng chồng và một số nhà thơ thành lập “Hội Triết học và Tôn giáo” ở Sankt-Peterburg. Tuyển tập thơ 1889 – 1903 (xuất bản năm 1904) trở thành một sự kiện của thơ ca Nga đương thời. Nhà thơ Innokentiy Annensky gọi tác phẩm của Gippus là “tất cả lịch sử 15 năm của thơ hiện đại”. Ngoài thơ, Gippus còn nổi tiếng là nhà phê bình thường xuyên đăng bài trên các tạp chí nổi tiếng đương thời trong những năm từ 1899 – 1914. Tác phẩm Литературный дневник, (Nhật ký văn học, 1908) được đánh giá là một tác phẩm phê bình xuất sắc. 

Gippus không thừa nhận Cách mạng tháng Mười. Điều này được phản ánh trong tập Последние стихи. 1914-1918 (Những bài thơ cuối cùng, 1918) và Петербургские дневники (Nhật ký Peterburg). Năm 1920 bà cùng chồng sang Ba Lan rồi sang Pháp. Những năm 1925 – 1940, Gippus thành lập hội Зеленая лампа (Ngọn đèn xanh), nhằm thống nhất các nhóm văn học Nga ở nước ngoài, tuy nhiên, hội này không có được sự thống nhất thường xuyên như người sáng lập mong muốn. Năm 1941, sau khi chồng mất Gippus tập trung những năm cuối đời viết tiểu sử của chồng nhưng dang dở dang thì bà mất ngày 9 tháng 9 năm 1945 ở Paris. 

T
ác phẩm: 
*Собрание стихов. 1889 - 1903" (Москва, 1904),
 
*Собрание стихов. Кн. 2. 1903 - 1909" (Москва, 1910),
 
*Новые люди (Петербург, 1896; 1907),
 
*Зеркала (Петербург, 1898),
 
*Алый меч (Петербург, 1906)
 
*Маков цвет (1908; совместно с Д. С. Мережковским и Д. В. Философовым),
 
*Чёртова кукла (1911),
 
*Роман-царевич (1913),
 
*Зеленое кольцо (1916).
 
*Последние стихи. 1914-1918 (1918)
 
*Живые лица" (1925)
 

Các tuyển tập xuất bản Nga sau cải tổ: 
*Гиппиус З. Пьесы. Л., 1990
 
*Гиппиус З. Живые лица, тт. 1-2. Тбилиси, 1991
 
*Гиппиус З. Сочинения. Ленинградское отд. Худож. лит. 1991
 
*Гиппиус З. Стихотворения. СПб, 1999
 
*Гиппиус З. Дневники, тт. 1-2. М., 1999
 




ĐƠ
N VỊ ĐO LƯỜNG
(Мера)

Luôn luôn thế, một điều gì không có 
Và một điều gì đó cần nhiều hơn 
Dường như có câu trả lời cho tất cả 
Nhưng dù sao, thiếu âm tiết cuối cùng. 

Liệu làm xong một điều gì – không phải thế 
Không đúng lúc, không chắc chắn, tròng trành 
Và mỗi dấu hiệu đều không chung thủy 
Và trong từng quyết địnhvẫn sai lầm. 

Mặt trăng uốn khúc, ngoằn ngoèo trong nước 
Nhưng con đường vàng ánh và dối gian 
Khắp mọi nơi đều có sự mất mát 
Chỉ Thượng Đế có đơn vị đo lường. 

Мера

Всегда чего-нибудь нет,-
Чего-нибудь слишком много...
На все как бы есть ответ -
Но без последнего слога.

Свершится ли что - не так,
Некстати, непрочно, зыбко...
И каждый не верен знак,
В решеньи каждом - ошибка.

Змеится луна в воде,-
Но лжет, золотясь, дорога...
Ущерб, перехлест везде.
А мера - только у Бога.


TÌNH CHỈ MỘT
(Любовь – одна)

Chỉ một lần sôi lên ngầu bọt 
Và con sóng tung lên 
Con tim không thể sống bằng dối gian 
Không hề có dối giantình chỉ một. 

Ta đùa chơi hay là ta cáu gắt 
Hay dối giannhưng tĩnh lặng trong tim 
Ta không bao giờ thay đổi gì hơn: 
Hồn chỉ mộtvà tình yêu chỉ một. 

Rất đơn điệu, hoang vu như sa mạc 
Tình mạnh mẽ nhờ đơn điệu mà thôi 
Đ
i qua đờitrong cuộc đời rất dài 
Tình chỉ một, và luôn luôn chỉ một. 

Chỉ trong sự thủy chungvà vô cực 
Chỉ trong sự thường xuyêncó đ sâu 
Gần vĩnh hằng, và con đường tiếp theo 
Sẽ càng rõ ràng hơn: tình chỉ một. 

Ta trả giá cho tình bằng máu huyết 
Tâm hồn thủy chung thì vẫn thủy chung 
Và ta yêu chỉ bằng một mối tình 
Tình chỉ một, chỉ một như cái chết. 

Любовь - одна

Единый раз вскипает пеной
И рассыпается волна.
Не может сердце жить изменой,
Измены нет: любовь - одна.

Мы негодуем иль играем,
Иль лжем - но в сердце тишина.
Мы никогда не изменяем:
Душа одна - любовь одна.

Однообразно и пустынно,
Однообразием сильна,
Проходит жизнь... И в жизни длинной
Любовь одна, всегда одна.

Лишь в неизменном - бесконечность,
Лишь в постоянном - глубина.
И дальше путь, и ближе вечность,
И всё ясней: любовь одна.

Любви мы платим нашей кровью,
Но верная душа - верна,
И любим мы одной любовью...
Любовь одна, как смерть одна.



TIẾNG KÊU
(Крик) 

Tôi cảm thấy mệt nhoài vì kiệt sức 
Và tâm hồn này trong máu bị thương 
Chẳng lẽ cho ta không một chút tình 
Chẳng lẽ Chúa Trời không hề thương xót? 

Ta thi hành ý muốn rất nghiêm ngặt 
Như bóng đêm, không dấu vết, lặng im 
Bằng con đường nghiệt ngã, chẳng xót thương 
Nhưng ta đi về đâukhông biết được. 

Gánh nặng cuộc đời, gánh nặng cây thập ác 
Càng đi xa, càng thấy nặng nề hơn 
Đ
ang chờ takết cục không rõ ràng 
những cánh cửa muôn đời đóng chặt. 

Không hề ngạc nhiên và không than khóc 
Ta làm điều mong muốn của Chúa Trời. 
Ngài tạo ra ta thiếu hứng khởi tràn đầy 
Tạo ra ta, nhưng yêu không thể được. 

Và ta rơi xuống, đám đông bất lực 
Bất lực và tin vào sự diệu kỳ 
Như nắp mộ chí – từ trên cao kia 
Những bầu trời mù quáng đang đè chặt.

Крик

Изнемогаю от усталости,
   Душа изранена, в крови...
Ужели нет над нами жалости,
   Ужель над нами нет любви?

Мы исполняем волю строгую,
   Как тени, тихо, без следа,
Неумолимою дорогою
   Идем - неведомо куда.

И ноша жизни, ноша крестная.
   Чем далее, тем тяжелей...
И ждет кончина неизвестная
   У вечно запертых дверей.

Без ропота, без удивления
   Мы делаем, что хочет Бог.
Он создал нас без вдохновения
   И полюбить, создав, не мог.

Мы падаем, толпа бессильная,
   Бессильно веря в чудеса,
А сверху, как плита могильная,
   Слепые давят небеса. 


NẾU
(Если)

Nếu đèn tắtthì tôi chẳng thấy gì. 
Nếu người là thú – thì tôi căm ghét. 
Nếu người tệ hơn thú – thì tôi giết đi. 
Nếu không còn nước Ngathì tôi chết.

Если

Если гаснет свет - я ничего не вижу.
Если человек зверь - я его ненавижу.
Если человек хуже зверя - я его убиваю.
Если кончена моя Россия - я умираю.


BẤT LỰC
(Бессилье)

Tôi nhìn biển bằng ánh mắt khao khát 
Nhìn dải đất bao bọc trên bờ 
Tôi đứng đâytrên trời, trên bờ vực 
Không thể bay vào màu xanh ước mơ. 

Tôi không biết, đứng lên hay phủ phục 
Tôi không dám chết, nhưng sống cũng không 
Không thể cầu nguyệndù Chúa rất gần 
Tôi muốn tình yêunhưng không yêu được. 

Tôi đưa bàn tay hướng về mặt trời 
Và tôi nhìn thấy màn mây xám ngắt 
Tôi cứ ngỡ mình hiểu ra sự thật 
Nhưng dành cho sự thật chẳng có lời.

 Бессилье

Смотрю на море жадными очами,
К земле прикованный, на берегу...
Стою над пропастью - над небесами,-
И улететь к лазури не могу.

Не ведаю, восстать иль покориться,
Нет смелости ни умереть, ни жить...
Мне близок Бог - но не могу молиться,
Хочу любви - и не могу любить.

Я к солнцу, к солнцу руки простираю
И вижу полог бледных облаков...
Мне кажется, что истину я знаю -
И только для нее не знаю слов.




TÌNH YÊU
(Любовь)

Trong hồn tôi không còn chỗ cho đau khổ 
Tâm hồn của tôi là tình. 
Tình đập vỡ những mong ước của mình 
Đ
hồi sinh những ước mong lần nữa. 

Khởi thủy là Lời. Hãy đợi chờ Lời 
Lời sẽ mở. 
Đ
iều gì đã làm xongsẽ còn làm nữa 
Bạn và Ngàichỉ một mà thôi. 

Á
nh sáng cuối, cho tất cả mọi người 
Dấu hiệu là chỉ một. 
Hãy bước đi, dù ai cười, ai khóc 
Hãy bước đihãy đi đến với Ngài. 

Đ
ến với Ngài trong giải thoát đất đai 
Và sẽ có những điều kỳ lạ. 
Và sẽ trong sự thống nhất tất cả - 
Mặt đất và bầu trời.

Любовь

В моей душе нет места для страданья:
   Моя душа - любовь.
Она разрушила свои желанья,
   Чтоб воскресить их вновь.

В начале было Слово. Ждите Слова.
   Откроется оно.
Что совершалось - да свершится снова,
   И вы, и Он - одно.

Последний свет равно на всех прольется,
   По знаку одному.
Идите все, кто плачет и смеется,
   Идите все - к Нему.

К Нему придем в земном освобожденьи,
   И будут чудеса.
И будет все в одном соединеньи -
   Земля и небеса.


NIỀM VUI
(Отрада)

Những nghi ngờ làm phiền tôi bạn  
Đã
từ lâu cảm tháy cái chết gần. 
Trong nấm mồ mà tôi sẽ ngủ yên 
Tôi biết rằng tối tăm và oi . 

Nhưng tôi vẫn đây, cùng bạn đó 
Trong hơi thở gió, trong ánh mặt trời 
Tôi sẽ làm con sóng trên biển cả 
Và đám mây bay lượn giữa bầu trời. 

Tôi xa lạ với ngọt ngào trần thế 
Và con tim, ngay cả với buồn thương 
Như sao xa lạ hạnh phúc, vui mừng 
Nhưng cho tôi bạn đừng thương xót nhé. 

Tôi đợi lặng yênhồn tôi mệt lử 
Mẹ - thiên nhiên cất tiếng gọi tôi về 
Thật nhẹ nhàng, gánh nặng đời yên ngủ 
Bạn tôi ơi, chết sung sướng nhường kia!

Отрада

Мой друг, меня сомненья не тревожат.
Я смерти близость чувствовал давно.
В могиле, там, куда меня положат,
Я знаю, сыро, душно и темно.

Но не в земле - я буду здесь, с тобою,
В дыханьи ветра, в солнечных лучах,
Я буду в море бледною волною
И облачною тенью в небесах.

И будет мне чужда земная сладость
И даже сердцу милая печаль,
Как чужды звездам счастие и радость...
Но мне сознанья моего не жаль,

Покоя жду... Душа моя устала...
Зовет к себе меня природа-мать...
И так легко, и тяжесть жизни спала...

О, милый друг, отрадно умирать!


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét